Tu lình – Cây thuốc chữa bệnh về đường tiêu hoá hiệu quả

Cây tu lình là loại cây chữa các bệnh về đường tiêu hóa như: đi lỏng lỵ, táo bón, rối loạn tiêu hoá, đau bụng không rõ nguyên nhân. Có lẽ chưa có một cây thuốc nào có đến 10 cái tên như cây tu lình. Đây là cách điều trị chữa viêm đại tràng bằng dân gian hiệu quả nhất.

1. Giới thiệu cây tu lình

Tu lình là cây mọc hoang trong rừng ở Cao Lạng. Thân cây bấc, mọc nhanh, một năm cây cso thể mọc cao 30 cm. Lá mềm, không xơ, hình lá thon dài và không cân đối, đuôi lá thường vẹo, mặt phải lá xanh sẫm hơi ráp, mặt trái xanh nhạt, lá mọc đối xứng tạo thành mắt, lá vàng dễ bị rụng.

Vào mùa xuân, cây ra hoa thành từng chùm ở cuối cành, cuống hoa ngắn, tán hoa có 4 cánh nhỏ màu trắng tím nhạt, ống hoa dài và không thấy quả. Thân cây già có màu xám nâu, rễ mọc chùm không có rễ cái.

Lá già có vị đắng ngọt như có bột, lá non nhớt và không có mùi vị; vỏ và rễ mùi vị như lá già. Lá cây tươi chưa phát hiện có độc tố gì, có tác dụng kích thích thần kinh. Sử dụng nhiều có cảm giác say nhẹ một thời gian ngắn. Ăn chín không gây phản ứng.

tu-linh

2. Công dụng:

Chữa các bệnh về đường tiêu hoá: Đi lỏng lỵ, táo bón, rối loạn tiêu hoá, đau bụng không rõ nguyên nhân.

Ăn từ 7-9 lá tu lình, khoảng 2-3 lần/ngày đến khi khỏi, có thể nấu canh nhạt để ăn.

Bệnh kèm theo chảy máu: chảy máu dạ dày, đái ra máu, đường ruột, phân ra máu kể cả đái buốt và đái rắt…

Ăn lá khi bụng đói hoặc sắc nước lá đặc để uống, có thể nấu canh khoảng 1 bát nhỏ. Ăn 1-5 lần, máu sẽ cầm, nên ăn 2 lần/ngày.

tu-linh-1

Các bệnh ung thư thời kỳ phát bệnh

Ăn lá xong cơn đau sẽ giảm dần, người tỉnh táo, ăn ngủ tốt và cso cảm giác như khỏi bệnh. Qua một số bệnh ung thư gan, phổi, dạ dày… đều thấy bệnh có diễn biến tốt. Lượng lá sử dụng thường xuyên theo mức độ đau; thông thường 2 lần/ngày, mỗi lần 3-7 lá tùy theo hiệu quả giảm đau.

Chữa các bệnh u ở phổi, tiền liệt tuyến

Liều dùng như trên, sau 1 tuần các triệu chứng của bệnh giảm hẳn, bệnh nhân ăn ngủ tốt hơn. Riêng u xơ tuyết tiền liệt thì ăn vào cuối tháng, khoảng 3 tháng liên tục.

Các bệnh về gan: viêm gan, xơ gan cổ trướng…

Ăn lá tu lình tươi như trên ngày 2 lần khi đói. Bột lá khô với bột tam thất theo tỷ lệ 1:1 là thuốc trị xơ gan cổ trướng đặc hiệu.

tu-linh-2

Bệnh về thận: Viêm thận cấp hoặc mãn, suy thận, các hiện tượng đái đục, đái ra máu.

Điều trị như trên sau 1 tuần. Ăn mỗi ngày 1 lần, nước giải chỉ trong được nửa ngày thì cần tăng lên 2 lần/ngày. Trong thời gian nửa tháng các triệu chứng bệnh giảm rõ rệt.

Chữa viêm đại tràng, trĩ nội ngoại, trực tràng, Loét dạ dày, hoành tá tràng…

Ăn lá tươi khi đói (tốt nhất là buổi sáng). Với các vết thương phạm vi dạ dày, chỉ cần ăn trong 1 tuần, tránh uống rượu mạnh. Khi chữa vết loét thuộc phần ruột, liều lượng cần nhiều hơn tùy thuộc độ năng nhẹ.

Điều chỉnh huyết áp, ổn định thần kinh

Khi huyết áp biến đổi theo liều lượng trên, ăn xong chợp mắt nghỉ trong một thời gian ngắn, huyết áp sẽ trở lại bình thường. Khi lên cơn rối loạn thần kinh thực vật, tùy theo mức độ để định liều lượng, có thể ăn vào buổi sáng để giúp cơ thể ổn định trong ngày và đề phòng khi thời tiết đột ngột thay đổi.

Chữa về chấn thương:

Các loại chấn thương, đặc biệt vỏ não, va đập, gãy dập xương hay bắp thịt.

Lá thuốc tu lình có tác dụng cầm máu, khôi phục các mô cơ bị dập và chống viêm nhiễm. Lá được làm cả thuốc đắp và uống. Khi vết thương kín có thể nhai để đắp, vết thương hở nên giã ra để đắp.

Chữa cảm cúm

Nếu kéo theo đau đầu, mệt mỏi ở nhiệt độ cao, rối loạn tiêu hóa. Nên ăn lá cách 2 giờ, cơn sốt sẽ nhanh chóng hạ đồng thời rối loạn tiêu hóa cũng khỏi. Sau cơn sốt nên ăn cháo có lá thuốc trộn cùng làm cho người bệnh mau khỏi.

Chia sẻ bài viết:

No comments yet.

Leave a Reply

LASTEST POST